NS.32_Vi Diệu
- ghpham1210
- 26 thg 6, 2024
- 7 phút đọc
Môn sinh Tâm Võ
Môn sinh thiền đường San Fernando Valley
Ngày 17 tháng 11 năm 2011
Cách đây không lâu, vào khoảng bốn năm trước. Tôi đưa chị tôi ra phi trường. Cái lần chia ly đó không giống như bất kỳ một tiễn biệt bình thường nào khác bởi vì tôi hiểu rằng sau cái vẫy tay lần đó chị và tôi sẽ không còn dịp gặp gỡ thường xuyên hay sinh hoạt với nhau trong môi trường của nếp sống thường nhật như trước nữa… Thế là chị tôi đã xuất gia, quyết định khép mình vào dòng nghịch lưu sinh tử để mong tìm được ý nghĩa đích thực của đời người và tìm lại bản lai diện mục, sự thanh tịnh trong sáng vốn có của chính mình... Còn tôi, lại quay về tiếp tục hòa mình vào vũ điệu náo nhiệt quay cuồng của cuộc sống, của những vui buồn, những toan tính đầy phiền muộn, của những hành động tạo tác, cách nghĩ, cách nhìn theo tri kiến của chính mình, theo thói quen của tâm thức đã được hun đúc từ kiếp nào.
Ngày tháng vẫn trôi mau. Ðông đến rồi Xuân đi, hoa tàn rồi lại nở, cuộc sống mãi xoay vần cuốn theo những đổi thay không ngừng nghỉ. Nhưng trong tôi, luôn cảm giác một sự trì trệ chậm lụt hầu như không hề biến đổi, có chăng chỉ là chút ít. Nó cứ mãi ở đó, lì lợm bám lấy tôi. Ðó là lòng sân hận đố kỵ, sự ích kỷ nhỏ nhen, những vui-buồn-mừng-giận-thương-sợ-ghét-muốn, bản chất của sự so đo tính toán, tranh chấp hơn thua, sự ngạo mạn thái quá… Tệ hại hơn cả là những vọng tưởng chấp trước luôn quay cuồng trong tâm thức gây ra những xáo trộn tâm lý làm nội tâm mất quân bình, mệt nhoài không phút ngưng nghỉ. Tất cả những thứ này quyện thành một đám mây đen dày đặc bao phủ lấy tôi, chi phối mọi sinh hoạt hàng ngày. Từ sự đi đứng nằm ngồi, hành động, lời nói cho đến cái sâu kín nhỏ nhặt nhất là từng suy nghĩ từng ý niệm mà cũng bị đám mây vô minh đó điều khiển, khống chế. Tôi cảm thấy vô cùng bất lực như một con rối bị điều khiển bởi những sợi giây vô hình trói buộc khắp chân tay. Như một lẽ thường, khi đã nhận thức được rằng mình đang bị ràng buộc bị khống chế thì ai cũng vùng vẫy mong muốn được vượt thoát, được cởi trói. Nhưng khốn thay “mong muốn” và “hiện thực” là hai việc hoàn toàn xa cách. Ai cũng muốn không bực tức không giận hờn, biết ích kỷ, tham lam là việc không nên làm, nhưng liệu có tránh khỏi được chăng?! Ðành rằng đã từ lâu tôi hiểu rất rõ tất cả những ràng buộc, những khổ đau phiền lụy trong cuộc sống đều do chính mình tự tạo ra chứ không do ai khác áp đặt lên cho mình, hay bắt mình phải gánh chịu. Tôi có tìm tòi và thử qua nhiều phương pháp thực hành khác nhau để mong hóa giải những khổ đau, hóa giải những si mê ngu muội, để xóa tan đi những vọng tưởng phân biệt chấp trước nhưng đều vô hiệu. Cái vỏ cứng vô minh vẫn còn trơ trơ ra đó. Trước đây đã sống, sinh hoạt, hành động, suy nghĩ thế nào thì giờ đây vẫn hành sử, suy nghĩ theo tính cách, thói quen như thế đó. Ðám mây đen dày đặc vẫn lơ lững ngay trên đầu, hay nói một cách rõ ràng hơn, chính tôi là đám mây đen dày đặc đó. Có thể trước đây tôi chưa thực hành các phương pháp đó một cách nghiêm túc hay chưa tìm được cho mình một phương pháp thực hành thích hợp và thiết thực.
Bẵng đi một thời gian, vào một buổi sáng rất yên bình, tôi đang lặng yên ngồi nghĩ đến chị tôi. Cũng vừa lúc đó chiếc điện thoại trên bàn reo vang cắt ngang dòng suy nghĩ miên man. Như thế cuối cùng chị cũng đã gọi điện cho tôi sau một thời gian xa cách. Đây là lần đầu tiên chị gọi về sau cuộc tiễn biệt hôm đó. Trước đây, ngày tôi đưa chị ra phi trường nó đặc biệt đối với chị như thế nào thì giờ đây cú điện thoại này cũng đặc biệt đối với tôi thế ấy. Bởi vì những gì chị nhắn gửi đến tôi trên điện thoại đã phần nào quyết định tương lai cuộc sống tâm linh của bản thân tôi. Chị đã giới thiệu đến tôi pháp môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền. Trước khi xuất gia chị cũng đã là môn sinh khóa cấp 1 & 2 của Vi Diệu Pháp do chính Thầy và Cô truyền thụ.
Phần đông, mục đích của những người tìm đến pháp môn đều để cầu mong tìm được sự an vui trong tâm hồn, nhất là để chữa lành những căn bệnh hiểm nghèo. Trong thâm tâm tôi căn bệnh hiểm nghèo nhất chính là tâm bệnh chứ không phải nơi thân bệnh. Pháp dưỡng sinh rốt ráo chính là pháp dưỡng tâm. Tâm thanh tịnh thì thân sẽ thanh tịnh. Thân tâm thanh tịnh thì hoàn cảnh chung quanh sẽ được thanh tịnh. Ưu, bi, khổ não sẽ không có cơ hội để phát sanh. Bệnh tật nhiễm ô theo đó cũng sẽ không có nguyên nhân để sinh khởi. Nỗi băn khoăn lớn nhất đối với tôi là liệu phương pháp hành thiền này có giúp tôi sửa đổi được thân tâm, xóa tan được những ưu, bi, khổ não do vọng tình chấp trước, có xóa tan được đám mây u ám nặng nề đã huân tập trong tâm thức từ lũy kiếp lâu đời tạo thành cái tri kiến cái thói quen trong tôi hay không.
Theo lời khuyên của chị, tháng tư ngày 28 năm 2008 tôi đã theo học khóa cấp 1 & 2 tại thiền đường Canoga Park do hai giảng huấn Trường và giảng huấn Lâm đảm trách. Càng đi sâu vào thực hành chữa bệnh và thiền định, tôi càng thấy được nhiều sự vi diệu của pháp môn. Một trong những cái hay của pháp môn là phương tiện giới luật đặt ra rất ít và đơn giản nhưng lại rất đầy đủ, hữu hiệu và thiết thực, dễ áp dụng cho cuộc sống hàng ngày. Ba trong những điều chính đó là:
1. Phải thiền định mỗi ngày
2. Không trị bệnh cho người khác hoặc thiền định trong vòng bốn tiếng đồng hồ sau khi uống bia rượu hoặc chất kích thích.
3. Không đặt điều kiện với bệnh nhân để thủ lợi, không kiêu ngạo tự mãn
Ba giới điều này theo tôi nghĩ, điều thứ nhất giúp các môn sinh luôn giữ được sự đều đặn tinh tấn, không giải đãi lười biếng, xuề xòa qua loa trong việc thiền định tu học. Điều này rất cần thiết, nhất là đối với những môn sinh mới, chưa đầy đủ tín tâm và nghị lực. Điều thứ hai không hề nhắc đến cấm bia rượu, nhưng nó thực sự lần hồi đưa môn sinh bỏ được thói quen ưa thích và hay sống phụ thuộc vào tác dụng của các loại chất kích thích. Điều thứ ba là phương tiện để diệt đi mầm mống tham lam ích kỷ, lúc nào cũng chỉ muốn thủ lợi cho bản thân không biết chia sẽ và giúp đỡ những người chung quanh. Diệt trừ đi cội gốc của phiền não khổ đau là tham, sân, si, mạn những thứ căn bản phiền não hầu như đã có sẵn như một thói quen trong mỗi con người chúng ta. Còn về sự đặt tay giúp bệnh, trông thì đơn giản nhưng nó hàm chứa rất nhiều đức hạnh cao quý của một người tu tập trên con đường giải thoát giác ngộ. Mỗi lần đặt tay giúp bệnh chính là lúc môn sinh phá đi cái ngã chấp, xã thân giúp đỡ mọi người không kể thân hay sơ, chủng tộc hay màu da. Sự giúp đỡ bất vụ lợi, không so đo tính toán, chỉ đơn thuần là cảm nhận được những khó khăn đau đớn của bệnh nhân rồi giúp họ vơi đi những niềm đau nỗi khổ nơi thân và tâm.
Làm được với tâm thái như vậy, chính là người môn sinh đang thực hiện hạnh xã và hạnh bố thí ba la mật, thực hiện được đầy đủ bốn đức tính cao quý: chân thành, thanh tịnh, bình đẳng và thương yêu.
Cái vi diệu của pháp môn là vậy, chỉ cần với sự chú tâm vào thiền định, tuân thủ đúng mực các điều luật, hết lòng giúp bệnh một cách chân thành. Làm được các điều này mỗi ngày thì lần hồi trí huệ sẽ phát sanh. Chỉ với sự thiền định, tuân giữ các giới luật đơn giản, biết thương yêu giúp đỡ tha nhân mà pháp môn đã gói ghém được cả một kho tàng vi diệu ẩn chứa bên trong. Làm được những điều này cũng có nghĩa là người môn sinh đã thực hiện được đầy đủ giới-định-tuệ tam vô lậu học vậy.
Pháp môn thì thù thắng vi diệu như vậy, nhưng bước đường tu học có được kết quả nhiều hay ít, nhanh hay chậm còn tùy thuộc phần lớn vào sự quyết tâm và căn tánh của mỗi người. Riêng tôi tội dày phước mỏng, cái võ cứng vô minh quá sâu dày, lớp mây đen của sân, si, mạn quá đen tối nên sự nổ lực và cố gắng cần phải có nhiều hơn nữa mới mong có ngày hoàn toàn gột rửa được thân tâm, buông bỏ hết thành kiến ngã chấp, xa rời cách nghĩ, cách nhìn sai lầm, từng giờ từng phút sửa đổi hành vi sinh hoạt của chính mình; đoạn tất cả ác, tu tất cả thiện!!!! Tu học là việc làm của cả đời. Ngày nào còn hít vào thở ra thì ngày đó còn cần phải học hỏi trau dồi. Bỏ được một thói quen, một tật xấu là bớt đi được một ít nghiệp. Giúp được một người, tạo được một niềm vui là trả được một phần nợ đã chồng chất vay mượn trong vô số kiếp.
Nhân dịp mừng sinh nhật Tổ, xin thành tâm cảm tạ ân đức của Sư Tổ đã từ bi soi đường chỉ lối dẫn dắt chúng con vượt qua sông mê, biển khổ. Cũng nhân đây xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đối với Thầy Cô đã tận tình chỉ dẫn, tạo ra những phương tiện hết sức thực tế để chúng em dễ dàng áp dụng trong cuộc sống. Xin cầu chúc tất cả quý đồng môn được thân tâm an lạc. Mỗi ngày một gặt hái được thêm nhiều điều phúc lành từ việc thực hành pháp Tổ.
